Cảm nhận 30-4

Posted on April 28, 2008

3


Trần Khải Thanh Thuỷ sinh năm 1960 nên ngày 30-4-1975 tôi  tròn 15 tuổi, đang còn ngồi trên  ghế nhà  trường phổ thông trung học. Tin miền Nam  hoàn toàn giải phóng dội tới từng công sở , xí nghiệp, trường học làm nức lòng  toàn dân , nét mặt ai cũng  hân hoan khúc khải hoàn ca. Lây tâm tâm trạng chung của  mọi người , tôi  cũng cảm thấy  nhẹ bỗng  như người không trọng  lượng. Cảm giác của người chiến thắng, nở hoa trong hồn, vui mừng không sao kể xiết. Khắp góc chợ, vỉa hè,  đâu đâu người dân cũng  đưa  tin  nước nhà giải phóng, chế độ nguỵ quyền sụp đổ. 

Các quầy báo đông nghịt người xếp hàng mua báo quân đội, nhân dân, Hà Nội mới, để xem tin chiến thắng . Một cuộc cách mạng long trời, lở đất, một chiến thắng vĩ đại của quân và dân Việt Nam, cũng là  một  cuộc  cách mạng  mùa thu tháng 8 -1945 lần thứ hai của người Việt Nam, thời kỳ khổ ải trường kỳ kháng chiến, thắt lưng buộc  bụng qua rồi ,giờ chỉ còn xây dựng  đất nước to đẹp đàng hoàng gấp 10 lần xưa thôi…. Mẹ tôi  mừng gấp đôi  vì  đã hơn 20 năm trời xa cách , nay  mới gặp được  chị cả, di cư vào Nam từ 1954 theo chồng. Người chị  mà vì có họ hàng dây mơ, rễ má, máu mủ ruột thịt  mà cả nhà phải  ngậm đắng, nuốt cay,  tám anh chị em trong  nhà, kể cả mẹ tôi  không ai được kết nạp đảng dù thoát ly, làm đường, thanh niên  xung phong từ năm 16 tuổi, phải sống, cống hiến, lao động và chịu đựng hơn  gương Bác Hồ vĩ đại  cả ngàn vạn lần , vẫn  ra rìa, vì  trong  gia đình có người  đầu  hàng , theo địch… một vết nhơ trong  gia đình, dòng tộc mà ngay cả khi thống nhất đất nước vẫn không thể nào gột rửa được .
 

Loay hay vất vả mãi, tận năm 1976  mẹ tôi  mới xin được cán bộ tổ chức cơ quan một tờ  giấy phép vào Nam ( thời gian đầu, nhà nước chỉ xét các đối tượng trong  diện vợ chồng, con cái, bố mẹ…) khỏi phải  nói đến sự mừng tủi của hai chị em  sau 21 năm xa cách. Bác ôm lấy mẹ tôi khóc khi hay tin cả bố và mẹ đẻ  đã mất  ngay sau  khi  tiến  hành cải cách ruộng đất, nhà bị đưa vào diện địa chủ, bóc lột. Ông tôi khi ấy  đang làm hiệu trưởng trường cấp I,  vì uất  ức mà phải giằng kính khỏi mắt  đập mạnh  xuống nền nhà cho mắt  kính vỡ tan để  lấy một mảnh nhọn và sắc nhất rạch ruột tự tử ngay trước mặt cán bộ cải cách…Khi cả đoạn ruột lòi ra ngoài ổ bụng, một viên bác sĩ người Pháp vội vàng chạy đến băng bó, cấp cứu, nhưng ông tôi đưa tay  ra hiệu không cần thiết,  kèm câu nói chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn của mình: “Một xã hội mà kẻ vô văn hoá lên cầm đầu, trừng trị người lương thiện, cũng là người đã góp phần  nuôi cả đại đội chiến sĩ trong nhà ăn no đánh thắng, giết giặc, lập công…thì xã hội ấy chỉ còn là sự  đồi bại, tha hoá, cướp bóc, trừng trị,  không những không đưa đất nước ra khỏi quỹ đạo luẩn quẩn của nghìn năm Bắc thuộc, mà còn không bằng  xã hội trong thời kỳ  phong kiến thối nát”…Một  xã hội bất công, vô lý  như thế  thì  tôi còn  sống làm gì ? Làm sao cam tâm nhìn cảnh đất nước bị tàn phá, lương dân  bị giày xéo ….Đời người chỉ chết có một lần, sống mà phải mang vết nhơ gia đình mình là địa chủ, chuyên  áp bức, bóc lột dân lành  thì sống sao nổi?

 Nói lại những lời hùng hồn trăng trối cho viên bác sĩ người Pháp nghe xong, ông tôi  nhắm mắt  trút hơi thở cuối cùng. Bà tôi  không chịu đựng nổi cái chết  phi lý, đường  đột  của ông, lại chứng kiến cảnh mất nhà, cướp đất của lũ cán bộ cốt cán, từng ăn mòn bát, ngồi mòn chiếu nhà mình, một điều u, hai điều con, nay giở mặt gọi bà là địa chủ bóc lột, đòi đưa ra đấu tố, trong  khi con cái ly tán khắp các phương trời góc bể, Từ Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Tây , Hà Nội v.v nên cũng ốm đau , mòn mỏi, đành  nhắm mắt, xuôi tay   khi tuổi đời chưa tròn một vòng hoa giáp…

 
Khóc cho bố mẹ chán, bác tôi  quay ra khóc cho mình, cho cả đại gia đình 9 đứa con, gần 30 chục cháu nội ngoại cùng 9 cặp dâu rể đang trong cảnh bấn loạn tinh thần. Chỉ vì tin ông bà còn sống mà nấn ná ở lại, cấm con cái không được  “lầm đường  lạc bước theo giặc, bỏ quê cha đất tổ mà đi”… Giờ  cơ hội đã  lỡ, tất cả  đều trong  cảnh sống giở chết giở, 6  anh con trai là sĩ quan cộng  hoà đều phải  đi học tập cải tạo mút mùa,  vợ con không ai nuôi nấng,  chăm sóc …Đang từ xã hội tiêu thụ, gi gỉ gì gi, cái gì cũng  có, thành xã hội bao nhiều, cấp ít, gi gỉ gì gi, cái gì cũng thiếu …ai cũng hoang mang chán nản, bởi cuộc sống đã bị cướp đi những gì quý giá, căn bản nhất, không còn là sống mà chỉ là sự tồn tại, vạ vật cho qua ngày đoạn tháng, đau khổ đến chết và đói nghèo đến chết, thậm chí có người không chịu đựng nổi cảnh địa ngục trần gian do bọn phát xít  mới đưa lại đã lặng lẽ tìm đến cái chết, hòng làm  đứt tung mọi sự ràng buộc, gian díu với đời . Khi tôi  vào, điều cảm nhận đầu tiên của tôi là sự hụt hẫng, suốt dọc đường trên  chuyến tàu xuyệt Việt, tầm mắt chỉ được nuôi dưỡng bằng  cảnh nghèo, cái đói . Không phải “Đường  vô xứ nghệ quanh quanh, non xanh, nước biếc như tranh hoạ đồ” như thơ Tố Hữu miêu tả mà là :
 

Đất nước mình đâu cũng  mái nhà gianh ,
Gương mặt người ai cũng xám  xanh ,Đơn giản vì đồng đất bạc màu, hoang hoá, hết tím hoa mua lại trắng  mùa hoa sở. Thứ hoa dại  vốn chỉ mọc ở ven đồi,  sườn núi, đẹp thì có đẹp  nhưng  không nuôi sống nổi con người. Vào đến Sài gòn, nếu nhà văn Dương Thu Hương đã phải ngồi thụp xuống vỉa hè  vì đau xót, hẫng hụt  trước một sự  thực trần  trụi:  Nền văn minh mọi rợ  chiến tháng nền văn minh hiện  đại thì tôi  cũng có những nỗi buồn tương tự. Đất nước liền một dải, non sông thu  về một mối, nhưng lòng người  đầy cách ngăn. Một con sông bến Hải, một vĩ tuyến 17 ngày và đêm, một nhịp cầu Hiền Lương vẫn tồn tại trong  lòng mỗi con người. Dù là tình máu mủ, ruột thịt, anh em, họ hàng, bà con, cô bác vẫn không sao  xoá nhoà được  ranh giới của kẻ thua, người thắng, kẻ bắc, người Nam, kẻ lấn chiếm, người bị động…Khắp thành phố, sự phân biệt kị thì vẫn hằn lên trong  từng ánh mắt, giọng nói, điệu cười. Các anh chị tôi  tiếp đón một cách vừa phải , q ua quýt, không thân cũng  chẳng  sơ. Nếu không có bác tôi  làm cầu nối hẳn cuộc đón tiếp còn gượng gạo, buồn tủi hơn nữa. Đơn giản vì tôi  là người miền Bắc, người của phe đối địch, bị đầu  độc từ tấm bé,  nên mọi lời ăn tiếng  nói đều  do “cha mẹ sinh  con, đảng đoàn  xã hội chủ nghĩa sinh tính”…Động mở miệng là nhắc đến bác Hồ, gọi tên thành phố  cũng là thành phố Hồ Chí Minh  chứ không phải  Sài Gòn, càng không dám nói “Sài Gòn hoa lệ” hay  “hòn ngọc Viễn Đông”. Đã thế còn luôn  bảo vệ ý  kiến mình theo đúng  đường  lối, chủ trương, chính sách, quan điểm  của đảng và chính  phủ. Ngay cả khi bác hỏi: “Ngoài Bắc, mỗi tháng được phát  mấy lon sữa, hả con?” Cũng phải lên gân, lên cốt trả lời theo đúng những lời dạy dỗ khuyên bảo của thầy cô trên lớp học của mình: “Cần gì đâu bác, không một gram sữa, không một ký thịt nào mà vẫn đánh thắng bè lũ đế quốc và tay sai đấy thôi”.
 

 Biết bao ông bố bỏ lại vợ con ra căn cứ địa cách mạng rồi  tập kết ra Bắc, trở về dắt theo cả vợ lẽ, con thêm . Biết con trai đi học tập cải tạo, con dâu một nách 4,5 con nhỏ, vẫn không một lần lên trại thăm nuôi, còn dài giọng trách: – “Ai biểu nó vô Việt Nam cộng  hoà, quay súng bắn lại cách mạng, Giờ tao vô trại cũng có bảo lãnh cho nó ra được đâu”… khiến  con dâu vì nghèo, đói, uất ức mà phải  tự tử, bỏ lại bốn, năm đứa con côi cút, găm thêm vào lòng người chồng đang ngồi tù cải tạo một vết thương sâu hoắm .

  Trong  khi người miền Bắc thích ăn món cua bể (bê của)  hàng hoá  rùng rùng chuyển động ra phía  bắc,  thì trong  nam cứ dần dần nghèo đi, câu hát của người  dân miền Nam như lưỡi dao đâm vào tim người miền Bắc đau nhói: ” Đi ta đi giải phóng  miền Nam, đi đến khi nào người dân không còn cái quần, thì ta còn chiến đấu, quét sạch chúng sinh , lời bác sui dại bên tai,  chiến đấu cho đến ngày Nam, Bắc nghèo bằng  nhau”.

 

 Một dân tộc bị qúa khứ lịch  sử chia đôi thành hai vùng địa lý, chính  trị,  thuộc về hai chiến tuyến. Một vết cắt xuyên thấu mỗi gia đình, số phận, tưởng chừng giải phóng  được  rồi  là tình người, no ấm về theo. Ai ngờ, vì những chính sách cai trị man dợ  kéo dài mà kéo theo bao cảnh ba đào loạn ly,  trước tiên là cảnh chia đàn xẻ nghé của tất cả các gia đình “nguỵ quân, nguỵ quyền” chồng, con, anh em vào trại cải tạo, vợ con ở lại nheo nhóc đói khổ, phải đương đầu với cuộc sống vô cùng khắc nghiệt cùng bao quyết  sách man rợ, sai lầm chết người của đảng cộng sản: Tài sản bị cướp trắng sau cải tạo công thương nghiệp, giết chết cái gọi là mầm mống tư sản mại bản để  đề cao lý tưởng xoá bỏ chế độ người áp bức bóc lột người. Đổi tiền “Nguỵ ” ra tiền đảng với gía trị gần như không, đến mức người dân phải thốt lên đầy cay đắng khi cầm một nhúm tiền của đảng, bác trên  tay:
 

Bố cạn  tiền rồi  cán bộ ơi,
Đổi tiền mà sao đến  nỗi này
Chưa  tiêu  đã  hoá  tiêu  đi hết
Chú phỉnh tôi  rồi,  chính  phủ ơi”Trong  khi đại bộ phận người dân thành phố nghèo đi trông thấy, thì những  anh bộ đội cụ Hồ, ba lô con cóc lép kẹp trên lưng với chiếc  khung xe đạp, con búp bê nhựa xấu xí hôm nào, bỗng giàu lên một cách đáng ngờ. Từ vô sản thành hữu sản, còn người dân chịu cảnh đấu tranh giai cấp, cải tạo công thương nghiệp , nên đi từ hữu sản thành vô sản. Không những  khốn khổ vì đời sống thấp kém,  còn  khốn khổ vì bị cán bộ cách mạng  đè đầu  cưỡi cổ, sách nhiễu lung tung.
 

Biết bao cán bộ lãnh đạo với khẩu hiệu – tưởng chừng bất di bất dịch như một chân lý sống: “Một cái kim, sợi chỉ của dân không lấy” , bỗng vụt hiện  lên thành các quan cách mạng, quan đồng chí. Vừa ngủ quên trên ngai vàng quyền lực, chia nhau quả  thực, vừa quay lưng lại nỗi khổ của dân, hà hiếp cai trị dân, dù đó là những người từng nuôi dưỡng bao bọc che chở cho mình trong suốt những ngày cách mạng  còn gian khổ cam go nhất. Bao nhiêu tàn dư đế, quốc, phong  kiến, tưởng đào tận gốc, trốc tận rễ bỗng rùng rùng trở lại, gấp cả trăm, nghìn lần những  tiêu cực yếu kém của thời kỳ tồi tệ, hà khắc, phong kiến  trước kia-  tàn dư của chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Càng giành  được chính quyền, giành  được quyền tự chủ,  tự quyết  thì càng lòi sự  dốt nát, bất lực trong phương pháp quản lý của đảng cộng sản. Đất nước liền một dải nhưng lại thực hiện chính sách, ngăn sông, cấm chợ, khiến 400 quận, huyện trong cả nước biến thành 400 lô cốt, pháo đài riêng biệt…Từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, đất nước bị băm nát thành trăm nghìn mảnh vụn bởi các trạm gác, chốt canh, nhân viên thuế vụ v.v Chỉ đem cân gaọ, lạng thịt từ tỉnh  này sang tỉnh khác, huyện này sang huyện khác đã bị coi là buôn lậu và bị phạt, bị bắt, bị nhốt vô tội vạ,  khiến lòng dân tứ tán …Làn sóng di tản ồ ạt, di tản bằng  mọi giá,  gần 90% các sĩ quan ra khỏi trại cải tạo trở về là cùng vợ con bỏ đất nước ra đi, tạo thành một làn sóng lưu vong nhiều không kể  xiết, nạn thuyền nhân khủng khiếp nhất thế giới…Chưa kể các trại tù mọc lên như nấm suốt dọc bờ biển Đông để nhốt người vượt biển. Hiếm có người nào đi một lần đã trót lọt. Người bỏ mình  trên  biển  thẳm, người bị bắt hết lần này  lần khác, người trở thành nạn nhân của bọn hải tặc Thái Lan v.v Đau thương nhiều không kể  xiết…  Đất nước không phải  của toàn dân tộc Việt Nam như lời cha già dân tộc nói mà chỉ là của một phe nhóm những  kẻ lãnh đạo cộng sản, còn  những  người dân thấp cổ bé học thì  thuộc  tầng lớp bị trị, bị cai quản, đầy áp đặt  thô bạo và phân biệt đối xử không khác gì bài học lịch  sử đau xót của cả nghìn năm trước đó: “Được làm vua, thua làm giặc”. Hễ là người miền Bắc dù không có chứng chỉ văn bằng, năng lực lãnh đạo, quản lý, nhưng đều được cắt nhắc lên thành cán bộ. Con em ” Nguỵ quân, nguỵ quyền” bị phân biệt đối xử, bị xem xét về lý lịch,  thành phần . Bao nhiêu khẩu hiệu dùng để tập hợp lực lượng,   thu hút quần chúng sớm đến ngày chiến thắng, giờ trở thành đầu môi, chót lưỡi , thành sự bội ước với số đông đồng bào, đồng chí, anh em, cô bác.

Xã hội bị tha hoá , tuột dốc từng ngày. Thời điểm trước “giải phóng”, miền Nam Việt Nam dưới  sự chỉ đạo của chính  thể  cộng hoà, 21 triệu người đã  ra khỏi sự đói nghèo luẩn quẩn của nghìn năm lịch sử, nay nhờ  được đảng cộng sản “giải phóng” mà cả nước húp chung một niêu cháo loãng, cả nước lặn ngụp trong  những ô tem phiếu, nhá bo bo, mì hạt sái hàm, ăn khoai và củ mì đớ họng. Từ chỗ vượt xa Nam Hàn và Thái Lan trong  thập k ỷ 70,  thì ngay sau “giải phóng” một năm,  đã  kém xa Nam Hàn và Thái Lan về mọi mặt. Mượn  lý tưởng “xoá bỏ chế độ người bóc lột người”  để liên tục đánh vào tầng lớp hữu sản, để dần dần thay thế vai trò, từ vô sản thành hữu sản và ngược lại . Ngọn cờ của giai cấp vô sản càng giương cao thì tầng lớp cán bộ,  lãnh đạo đảng càng giàu lên một cách bất ngờ, trong  một thời gian  vô cùng ngắn  ngủi , trong  khi bao nhiêu  căn cứ cách mạng, bao nhiêu vùng nông thôn rộng  lớn phải  sống cảnh giật gấu vá vai, ăn bữa nay, lo bữa mai thì cán bộ cộng  sản ăn chơi phè phỡn , ăn luôn   cả thành tựu cách  mạng  bao năm gây dựng  trong  lòng dân . Khắp thành phố khi đó là một bức tranh hiện  thực trơ trụi , xám ngoét, hậu quả tất yếu của  sự lãnh đạo dốt nát, cộng  với chủ nghĩa  cơ hội, ăn xổi ở thì, cũng  như kiêu ngạo,  ảo tưởng  của kẻ chiến thắng. Vừa công kênh cái dốt, đề cao cái ác, lại vừa giày xéo lên lương tâm của những người lương thiện, chưa kể còn cố tình bám vào những lý thuyết sách vở lỗi thời là chủ nghĩa  Mác, Lê để  níu kéo sự phát  triển hài hoà của cuộc sống . Càng giương cao ngọn cờ “bách chiến bách thắng” trong  mọi  lĩnh vực thì càng khủng hoảng, thua lỗ. Càng nêu cao khẩu hiệu “nói thẳng , nói thật , đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật”  thì càng dối lừa, gian trá, khiến cho bài toán kinh tế mỗi ngày  lại mang thêm  nghiệm âm .

Hàng nghìn gia đình bị dồn lên khu kinh tế mới, mới chẳng  thấy  đâu, chỉ thấy  mênh mông mịt mùng là rừng, núi, vách đá dựng đứng. Ngày nắng  rát da, đêm lạnh thấu xương. Một ngày trải đủ  4 mùa xuân,  hạ, thu, đông, chẳng  biết làm gì  để ăn, để sống đành ôm nhau mà khóc, ôm nhau  mà sợ,  rồi  không thể ôm nhau mà chết, đành dắt díu lếch thếch kéo nhau về lại nơi ở cũ,  vạ vật nơi xó chợ,  lề đường,  vì nhà cũ đã được  quan cách mạng  chiếm cứ, trưng dụng vô điều kiện …

 

Ba mươi ngày ở lại Miền Nam thâm nhập  thực tế, trở ra lòng tôi  trĩu nặng. Cũng như tất cả  những người dân miền Nam khác trong thời kỳ đó, tôi không nhận được gì từ chế độ mới xã hội chủ nghĩa mà  chỉ cảm được  nỗi đau, nỗi khổ, nỗi bàng hoàng, hẫng hụt, bất bình của người dân với chính  quyền cộng  sản 33 năm qua rồi , nỗi đau còn đọng lại, vẹn nguyên, làm tổ, kết kén trong  hồn tôi, càng ngày càng mưng mủ, và bây giờ vỡ toác trên trang giấy …
 
Bệnh viện Châm Cứu  28-4-2008
Trần Khải Thanh Thuỷ